14/04/2017 Tại sao bỏ qua than, thép, chỉ chọn xăng dầu để tăng kịch khung thuế môi trường?

Nhiều ý kiến cho rằng, ngoài mặt hàng xăng dầu, nhiều hàng hóa khác như than, thép, hóa chất cũng có tác động tới môi trường như … Vậy, lý do nào Bộ Tài chính lại chọn xăng dầu là mặt hàng điều chỉnh khung thuế bảo vệ môi trường (BVMT)?

Luật Thuế BVMT quy định 8 nhóm hàng hóa khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường thuộc đối
tượng chịu thuế, tuy nhiên Bộ Tài chính chỉ đề xuất điều chỉnh khung thuế của 3/8 nhóm hàng hóa thuộc
đối tượng chịu thuế, gồm: xăng dầu, túi ni lông, dung dịch hydro-chloro-fluoro-cacbon (HCFC). Ảnh: minh họa

Trả lời câu hỏi này, đại diện Bộ Tài chính cho rằng, trên thực tế, nhiều hàng hóa khi sử dụng sẽ thải ra môi trường các loại chất thải ô nhiễm gây tác động xấu đến môi trường, trong đó có nhiều hàng hóa khi sử dụng thải ra môi trường gây tác hại nghiêm trọng.

Để giảm các tác động có hại đến môi trường và có nguồn lực để giải quyết vấn đề môi trường, hiện nay có một số chính sách thuế, phí, lệ phí thu vào việc sử dụng các hàng hóa này. Ví dụ như phí BVMT đối với nước thải, phí BVMT đối với chất thải rắn, phí BVMT đối với khai thác khoáng sản…

Ông Phạm Đình Thi, Vụ trưởng Vụ Chính sách thuế (Bộ Tài chính) cho rằng: “Luật Thuế BVMT quy định 8 nhóm hàng hóa khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường thuộc đối tượng chịu thuế, tuy nhiên thép là mặt hàng không thuộc đối tượng chịu thuế BVMT. Qua đánh giá tổng thể khung thuế BVMT hiện hành, Bộ Tài chính đề xuất điều chỉnh khung thuế của 3/8 nhóm hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế, gồm: xăng dầu, túi ni lông, dung dịch hydro-chloro-fluoro-cacbon (HCFC).

Tuy nhiên, đối với 5 nhóm hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế BVMT còn lại, trong đó có than đá, Bộ Tài chính không đề xuất điều chỉnh khung thuế do mức cụ thể hiện hành đang được quy định bằng mức tối thiểu trong khung thuế”.

Theo lý giải của Bộ Tài chính cho rằng, xăng dầu là sản phẩm chứa các chất hóa học, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường ở diện rộng. Tuy nhiên, Chuyên gia kinh tế, ông Phan Thế Ruệ, cho rằng, không riêng gì đối với xăng dầu, mỗi năm nước ta nhập khoảng 500 nghìn tấn hóa chất, đây cũng là loại mặt hàng gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường thì cũng cần phải áp thuế môi trường. Hay như chính sách đầu tư của các doanh nghiệp FDI cũng tác động nhiều đến môi trường… Tất cả đều phải thu thuế thì mới công bằng.

Thu thuế môi trường phải phục vụ cho môi trường!

Nhiều ý kiến cho rằng, việc tăng khung thuế BVMT đối với xăng thì dứt khoát phải sử dụng nguồn thu này tập trung vào việc sử dụng để bảo vệ môi trường do xăng dầu gây ra mới hợp lý. Nhưng hiện nay thuế BVMT được sử dụng cho công tác BVMT chưa rõ ràng, chưa tương xứng, thu nhiều nhưng chi thì rất ít.

Lý giải vấn đề này, phía Bộ Tài chính cho rằng, theo quy định của ngân sách nhà nước (NSNN), thuế BVMT là khoản thu NSNN và được sử dụng chỉ thực hiện các nhiệm vụ chi theo Luật NSNN như: Chi cho đầu tư phát triển, chi đảm bảo xã hội… Trong đó, việc chi cho đầu tư phát triển, nhiều dự án quan trọng có tác động trực tiếp đến BVMT như xử lý nước thải, xây dựng, nâng cấp đường giao thông… cũng là để BVMT.

Theo ông Phạm Đình Thi, không phải cứ chi trực tiếp cho môi trường mới nói là BVMT. Do vậy, chúng ta phải đánh giá tác động của nó không chỉ đánh giá trực tiếp, mà còn phải đánh giá gián tiếp, đó là thông qua các dự án này cũng là để BVMT.

“Cứ rạch ròi rằng chỗ này là BVMT, còn chỗ kia không BVMT thì rất khó cho chính sách”, ông Thi nói.

Cũng theo ông Thi thì hiện nay, riêng đối với kinh phí BVMT đều phải đảm bảo chi đúng theo quy định. Hiện nay Bộ Tài chính đang chi 1%, đây là chi trực tiếp cho sự nghiệp BVMT còn những cái tuy không trực tiếp nhưng cũng là để BVMT.

“Không thể nói thu nhiều hay ít là không sử dụng đúng mục đích, ở đây chúng ta thực hiện đúng theo Luật NSNN”, ông Thi khẳng định thêm.

Tuy nhiên, chuyên gia Phan Thế Ruệ cho rằng: “Quan trọng là nếu điều chỉnh nâng khung thuế BVMT thì việc thu thuế môi trường phải phục vụ cho môi trường! Phải có đề án khoa học rõ ràng trình lên Quốc hội rồi mới đề xuất điều chỉnh nâng khung thuế BVMT”.

Theo bảng xếp hạng của trang web Global Petrol Prices vào ngày 3/4/2017: Giá xăng dầu của Việt Nam đang đứng thứ 137 nước từ cao đến thấp, chỉ có một số ít nước khai thác dầu thô có giá xăng dầu thấp như Mỹ đứng thứ 152, Nga đứng thứ 153.

Về tỷ lệ thuế (gồm thuế nhập khẩu, thuế TTĐB, thuế BVMT và thuế GTGT) trên giá cơ sở của Việt Nam đang ở mức thấp: 37,24% đối với xăng; 21,14% đối với diesel; 11,5% đối với dầu hỏa; và 18,4% đối với mazut. Trong khi đó, một số nước như Hàn Quốc là 70,3%; Campuchia khoảng 40%; Lào khoảng 56%.

Bình luận & chia sẻ
Đang tải bình luận,....
Đọc thêm
Giá dầm H Đông Nam Á tăng tháng thứ 5 trong bối cảnh cơ hội trong nước tốt hơn
Các nguồn tin cho biết, giá nhập khẩu dầm hình H bản rộng vào tháng 3 vào Đông Nam Á tiếp tục cao hơn trong tháng thứ năm liên tiếp, khi người bán tăng kỳ vọng về giá với lý do cơ hội tốt hơn ở thị trường nội địa.
Đánh giá tháng 3 của dầm H bản rộng S275JR ở mức 770 USD/tấn CFR Đông Nam Á, tăng 20 USD/tấn so với tháng trước.
Một người mua đã mua dầm H xuất xứ từ Hàn Quốc với giá 760 USD/tấn CFR Singapore vào đầu tháng 3, tăng 10 USD/tấn so với giao dịch tháng trước.
Tuy nhiên, giá chào bán đã tăng lên 790 USD/tấn vào giữa tháng 3 và chỉ được chuyển sang chỉ báo vào cuối tháng khi các nhà xuất khẩu ở Hàn Quốc và Thái Lan cho rằng nhu cầu trong nước được cải thiện.
Chúng tôi đã mua một số nguyên liệu vào đầu tháng nhưng hiện các chào bán đã bị rút lại với người bán kỳ vọng cao hơn,” một nhà môi giới tại Singapore cho biết vào ngày 31/3. “Chúng tôi có thể cân nhắc lên đến 770 USD/tấn nếu một công ty đưa ra chào bán hôm nay.”
Trong khi đó, chào bán dầm H có xuất xứ từ Trung Quốc đã bị hạn chế trong bối cảnh suy đoán về việc giảm hoàn thuế xuất khẩu của Trung Quốc.
Tại Singapore, các hoạt động xây dựng được đánh giá là tốt với việc kho dự trữ nhận được các yêu cầu tích cực đối với thép xây dựng, tuy nhiên, một số không thể bán được do lượng cung cấp trong khu vực hạn chế.
Có nhu cầu từ các công trường xây dựng nhưng vấn đề là các nhà máy trong khu vực đang im hơi lặng tiếng,” nhà dự trữ cho biết. “Chúng tôi muốn tích trữ nếu giá đưa ra không quá cắt cổ.”

Dữ liệu cho thấy giá dầm hình H tại Đông Nam Á lần cuối đạt mức cao tương tự là 785 USD/tấn CFR vào tháng 6/2012.
Phôi thép Châu Á nhảy vọt, thép cây đi ngang trong bối cảnh giao dịch mới từ Qatar
Giá phôi ở Đông Nam Á kéo dài đà tăng vào ngày 31/ 3 khi những người mua trong khu vực mua một lô hàng Nga trong bối cảnh chào hàng ổn định, được hỗ trợ bởi nhu cầu từ Trung Quốc.
Trong khi đó, thép cây Châu Á đi ngang trong bối cảnh nhu cầu ổn định, với một giao dịch thép cây Qatar được đặt trước với điểm đến là Châu Á.
Đánh giá phôi giao ngay Đông Nam Á 5SP 130 mm ở mức trung bình 614 USD/tấn CFR Manila, tăng 7 USD/tấn so với ngày 30/3.
Tại Philippines, những người mua cần nguyên liệu đã phải trả tiền để đặt hàng mới sau hai tuần vắng bóng, trong khi một số người khác tỏ ra chán nản do tình hình tồi tệ hơn ở Manila.
Một hợp đồng phôi thép mới của Nga đã được ký kết ở mức khoảng 615 USD/tấn CFR tại Manila, một nguồn tin từ nhà máy Nga cho biết.
Một nguồn tin thị trường địa phương cho biết: “Họ không có lựa chọn nào về hàng hóa giá rẻ, với lý do giá chào ít nhất là 625 USD/tấn CFR Manila từ Việt Nam và Nga.”
Trong khi đó, một số nhà máy đã lên kế hoạch ngừng hoạt động kể từ ngày 1/ 4 do kỳ nghỉ lễ Phục sinh đang đến gần.
Trong khi đó, người mua Trung Quốc tiếp tục mua từ người bán Nga và Ấn Độ với mức giá khoảng 620 USD/tấn CFR Trung Quốc trong bối cảnh nhu cầu giao ngay trong nước ổn định, tăng 1-2 USD/tấn so với ngày trước.
Doanh số bán giao ngay cho người mua cuối cùng vẫn tăng mạnh ở miền bắc Trung Quốc do cắt giảm sản lượng ở Đường Sơn, tỉnh Hà Bắc, nhưng đã chậm lại ở miền đông Trung Quốc khi lượng phôi thép nhập khẩu đáng chú ý đến, một thương nhân miền đông Trung Quốc cho biết.
Phôi Tangshan Q235 được định giá ở mức 4,870 NDT/tấn (742 USD/tấn), không thay đổi so với ngày trước.
Khi giá tại miền Bắc Trung Quốc tăng mạnh 350 NDT/tấn kể từ ngày 22/3 và có khả năng đạt mức đỉnh trong ngắn hạn, những người tham gia thị trường đã đi ngang. “Một số người hy vọng giá sẽ tăng hơn nữa, trong khi những người khác không nghĩ như vậy,” một thương nhân miền Bắc Trung Quốc cho biết.
Giá chào từ Trung Đông và Nga giữ ổn định ở mức 620-627 USD/tấn CFR Trung Quốc, mức gần với hàng ASEAN có cùng chất lượng và lô hàng ở mức 630-635 USD/tấn CFR Trung Quốc. Hai bên tham gia thị trường cho biết mức chênh lệch hẹp giữa hàng hóa ASEAN và ngoài ASEAN từ 12- 13 USD/tấn xuống còn 5 - 8 USD/tấn do kỳ vọng rằng Trung Quốc sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu 2% đối với bán thành phẩm kể từ tháng 5.
Ngoài ra, giá thép cây tại Châu Á không đổi trong bối cảnh các chào bán mới đối với thép cây Thổ Nhĩ Kỳ và Qatar trong bối cảnh nhu cầu ổn định tại các thị trường nội địa Hồng Kông, Singapore và Trung Quốc và một hợp đồng thép cây Qatar mới đã được kết thúc với điểm đến Châu Á.
 
Đánh giá thép cây BS500 đường kính 16-20 mm ở mức 679 USD/tấn FOB Trung Quốc trọng lượng thực tế, không thay đổi so với ngày trước. Đánh giá thép cây có đường kính 16-32 mm BS4449 Grade 500 ở mức 668 USD/tấn CFR Đông Nam Á, không thay đổi so với ngày trước.
Tại thị trường bán lẻ Bắc Kinh, thép cây HRB400 đường kính 18-25 mm được đánh giá ở mức 4,980 NDT/tấn (759 USD/tấn) trọng lượng thực tế xuất xưởng vào ngày 31/ 3, bao gồm 13% thuế giá trị gia tăng, không thay đổi so với ngày trước.
Một hợp đồng mới cho một tàu thép cây Qatar được bán trên cơ sở FOB với điểm đến là Hồng Kông hoặc Singapore, các nguồn thị trường cho biết lô hàng trong tháng 6, trong khi giá của thỏa thuận này chưa được xác nhận tại thời điểm công bố.
Tại Hồng Kông, các nguồn cung cấp thép cây Qatar và Thổ Nhĩ Kỳ đã nhận được ở mức 680 USD/tấn CFR Hồng Kông trọng lượng thực tế của lô hàng cuối tháng 5/tháng 6, các nguồn thị trường cho biết, không thay đổi so với ngày trước.
Tại Singapore, một nhà chế tạo cho biết chào mua thép cây Qatar ở mức 680 USD/tấn CFR trọng lượng lý thuyết của lô hàng tháng 6.

Người mua ở cả hai thành phố đều nhận thấy nhu cầu ổn định từ người dùng cuối, đồng thời lượng hàng tồn kho cũng nhiều nên chưa vội mua.
HRC, tấm dày Châu Á tăng trong bối cảnh thị trường Trung Quốc tăng mạnh
Giá HRC châu Á kéo dài đà tăng vào ngày 31/3, với những người tham gia thị trường giữ cách tiếp cận chờ đợi trước khi công bố chính sách hoàn thuế xuất khẩu ở Trung Quốc.
Đánh giá HRC SS400 dày 3 mm ở mức 767 USD/tấn FOB Trung Quốc, không thay đổi so với ngày trước. Trên cơ sở CFR Đông Nam Á, cùng loại thép cuộn được đánh giá ở mức 767 USD/tấn, không thay đổi so với ngày trước.
Những người tham gia thị trường đang thảo luận về khả năng loại bỏ hoàn thuế xuất khẩu cho HRC ở Trung Quốc, điều này khiến cả người mua và người bán đều thận trọng.
Một thương nhân Trung Quốc cho biết: “Hầu hết mọi người thích chờ đợi ngay bây giờ, vì thông báo dự kiến ​​sẽ được công bố trong ngắn hạn”.
Chúng tôi đã nghe tin đồn rằng khoản hoàn thuế sẽ bị loại bỏ và khá lo lắng cho các hợp đồng hiện có,” một nguồn tin từ nhà máy Trung Quốc cho biết.
Đánh giá HRC SAE1006 ở mức 796 USD/tấn FOB Trung Quốc, tăng 5 USD/tấn so với ngày trước. Trên cơ sở CFR Đông Nam Á, cùng loại thép cuộn được đánh giá ở mức 803 USD/tấn, tăng 5 USD/tấn so với ngày trước.
Tại Việt Nam, hoạt động này bị tạm dừng do người mua đang chờ việc giảm hoàn thuế xuất khẩu ở Trung Quốc và người bán không muốn cung cấp bất kỳ chào bán nào vào lúc này. Một số nguồn tin thị trường cho biết chỉ báo mua tăng cao hơn lên 800-805 USD/tấn CFR, do dấu hiệu bán ra đã tăng đối với nguyên liệu của Ấn Độ và giá chào mua của Trung Quốc cao hơn do khả năng cắt giảm hoàn thuế.
Một thương nhân Việt Nam cho biết: “Thật khó để tìm được mức chào giá thấp hơn cho SAE1006,” trích dẫn mức chào bán cho SAE Ấn Độ trong tuần này là 830-845 USD/tấn CFR.”
Người dùng cuối không thể chấp nhận mức chào bán Ấn Độ. Nếu người mua nào có nhu cầu thì phải mua, nhưng những người khác sẽ chờ mua từ FHS hoặc Hòa Phát ”, một thương nhân thứ hai cho biết.
Tại Thượng Hải, giá HRC Q235 5.5 mm giao ngay được đánh giá ở mức 5,325 NDT/tấn (813 USD/tấn) xuất xưởng, bao gồm thuế giá trị gia tăng, giảm 5 NDT/tấn so với ngày trước.
Trên Sàn giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải, hợp đồng giao tháng 5 chốt ở mức 5,383 NDT/tấn, tăng 11 NDT/tấn, tương đương 0.2% so với cùng kỳ. Như vậy, hợp đồng này đã tăng trong 4 ngày liên tiếp với tổng mức tăng là 253 NDT/tấn và đạt mức cao mới kể từ khi hợp đồng ra mắt vào năm 2014.
Đánh giá hàng tuần tấm dày 12-25 mm loại Q235/SS400, hoặc loại tương đương, ở mức 750 USD/tấn CFR Đông Á, tăng 20 USD/tấn so với tuần trước.
Một nhà máy ở phía đông Trung Quốc chào giá 750 USD/tấn FOB và cần người mua trang trải 100% chi phí bổ sung trong trường hợp cắt giảm khoản hoàn thuế xuất khẩu, hầu hết các nhà máy khác chờ đợi ở bên lề.
Đánh giá tấm dày Q235 12-20 mm ở mức 740 USD/tấn FOB Trung Quốc vào ngày 31/3, tăng 65 USD/tấn so với tháng trước.


Giá trong nước của nguyên liệu cùng loại được đánh giá ở mức 5,300 NDT/tấn xuất xưởng tại Thượng Hải, bao gồm thuế giá trị gia tăng, tăng 420 NDT/tấn so với tháng trước.
Giá thép dây Trung Quốc tăng tuần thứ 8 liên tiếp, các nhà máy ngừng báo giá
Giá thép dây Châu Á tăng trên thị trường giao ngay và kỳ hạn Trung Quốc. Các nhà máy đã ngừng báo giá do không chắc chắn về những thay đổi về việc giảm hoàn thuế xuất khẩu của Trung Quốc.
Tại thị trường Thượng Hải, thép dây Q195 6.5 mm giao ngay được đánh giá ở mức 5,020 NDT/tấn (764 USD/tấn) xuất xưởng, bao gồm 13% thuế giá trị gia tăng, tăng 200 NDT/tấn so với tuần trước.
Đánh giá thép dây dạng lưới 6.5 mm SAE1008 ở mức 740 USD/tấn FOB Trung Quốc vào ngày 31/3, tăng 10 USD/tấn so với tuần trước.
Hầu hết các nhà máy xuất khẩu thép dây chính ở đông bắc và đông Trung Quốc đã ngừng báo giá trong tuần thứ hai liên tiếp do khả năng thay đổi về việc giảm hoàn thuế xuất khẩu. Các nguồn tin nhà máy cho biết họ hiện đang chờ đợi thông báo mới trong khi hiện tại vẫn chưa có thêm thông tin cập nhật nào.
Tin đồn không chính thức trên thị trường về những thay đổi của việc giảm hoàn thuế xuất khẩu ở Trung Quốc có thể sẽ bắt đầu vào tháng 4.
Một thương nhân cho biết: “Các hợp đồng đã bị đóng băng liên quan đến việc nhập khẩu thép dây của Trung Quốc vào thị trường Hàn Quốc.”
Chính phủ Trung Quốc đang ép buộc kế hoạch cắt giảm của họ dẫn đến sản lượng giảm nghiêm trọng và vì vấn đề chính sách giảm thuế, người mua đang giữ vững lập trường và quan sát lập trường,” nguồn tin nói thêm.
Một nhà máy đã chào bán các sản phẩm thép khác ngày hôm qua mà không có thép dây,” một người mua thép dây cho biết, đồng thời cho biết thêm rằng chào bán đó kèm với điều kiện người mua sẽ chịu 100% giá khi xảy ra thay đổi chính sách hoàn thuế.
Hợp đồng thép cây giao tháng 5/2021 trên Sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải chốt ở mức 4,935 NDT/tấn (751 USD/tấn) vào ngày 31/3, tăng 119 NDT/tấn so với tuần trước.