Việt Nam hiện đang được áp thuế tự vệ trong ngành thép đối với phôi thép là 23% và giảm dần 1-2% mỗi năm trong vòng 04 năm. Đến tháng 3/2020 thuế nhập khẩu phôi thép vào Việt Nam sẽ giảm về 0%. Những doanh nghiệp tự sản xuất được phôi thép sẽ có lợi như: HPG, VIS, TIS…

Ngành thép vẫn nhập siêu nhiều
Năng lực sản xuất thép trong nước đã đáp ứng đủ nhu cầu thép xây dựng, thép cán nguội, ống thép và tôn mạ. Một số sản phẩm thép xuất khẩu cao như: tôn mạ và sơn phủ màu, ống thép, thép cán nguội.
Tuy nhiên, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu nhiều quặng sắt, than mỡ, thép phế, HRC (thép tấm cuộn cán nóng), thép hợp kim, thép chế tạo...
Theo dự báo của Bộ Công Thương, thép thành phẩm năm 2017 sẽ tăng trưởng 12% so với năm 2016, trong đó: Thép xây dựng : 11%, sản lượng 9,6 triệu tấn; Thép lá cuộn cán nguội : 13%, sản lượng 4,1 triệu tấn; Thép ống hàn : 15%, sản lượng 2,3 triệu tấn; Tôn mạ và sơn phủ màu : 12%, sản lượng 3,8 triệu tấn.

Theo TS. Nguyễn Văn Sưa, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam, Việt Nam đánh thuế thép nhập khẩu 15%, tuy nhiên, doanh nghiệp Trung Quốc lách thuế bằng cách làm thép hợp kim nên thuế thép này chỉ còn 0% làm cho giá thép Trung Quốc đã rẻ càng rẻ hơn tràn vào Việt Nam. Tháng 6/2016, Bộ Công Thương ra Quyết định bảo hộ doanh nghiệp sản xuất thép trong nước. Do đó, thuế thép nhập khẩu vào Việt Nam đến năm 2020 mới về 0%.
Mỗi năm, mức thuế tự vệ bổ sung sẽ giảm từ 1-2% và giảm về 0 trong tháng 3/2020 nếu không có quyết định gia hạn.
Các doanh nghiệp sản xuất phôi như HPG, TIS, VIS… được hưởng lợi mạnh mẽ, trong khi những doanh nghiệp thép xây dựng nhỏ với công nghệ chưa cao, phải nhập phôi thép về làm nguyên liệu sẽ bị ảnh hưởng đáng kể khi phôi thép bị đánh thuế tự vệ 23%.

Đối với sản phẩm tôn mạ kẽm, Bộ Công Thương cũng đang áp thuế nhập khẩu từ 19-38% cho các sản phẩm có xuất xứ từ Trung Quốc và Hàn Quốc.
Mức thuế này được thực thi theo Quyết định 1105/QĐ – BCT, áp dụng từ tháng 4/2017, có thời hạn 05 năm.
Dòng tôn mạ màu cũng đã được áp thuế từ 2017-2020, mức thuế 19%, hạn ngạch 380-460 nghìn tấn.
Tại thị trường xuất khẩu, sản phẩm tôn mạ Việt Nam đang bị áp thuế chống bán phá giá tại Thái Lan (4,3-60,2%) và Malaysia (4,5-13,68%), thời hạn 5 năm từ 2017 - 2021.
Các thị trường Úc và Indonesia cũng đang tiến hành điều tra chống bán cho các sản phẩm này.
Hưởng lợi từ việc áp thuế tự vệ, tính từ 22/05/2016 đến nay, giá cổ phiếu ngành thép đã tăng trung bình hơn 46,6%, vượt trội so với các ngành bất động sản, xây dựng và vật liệu xây dựng, dầu khí, ngân hàng…
TS. Nguyễn Văn Sưa, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam, cho biết năm 2016, năng lực sản xuất phôi thép của Việt Nam khoảng 12 triệu tấn/năm và nhập khẩu 1,2 triệu tấn chủ yếu từ Trung Quốc. Trong những năm tới, tăng trưởng ngành thép của Việt Nam chỉ khoảng 8%. Malaysia và Thái Lan trước đó đứng đầu ngành thép Đông Nam Á trong thời gian tới đã không tăng sản lượng mà giảm nhẹ, Việt Nam tiêu thụ 22 triệu tấn thép, Thái Lan tiêu thụ 16 triệu tấn, Indonesia chỉ 14 triệu tấn với mức tăng trưởng 2-3% thì tăng trưởng 8% của Việt Nam là ấn tượng.
Tính trong 5 tháng đầu năm 2017, cả nước sản xuất được trên 7,8 triệu tấn thép thành phẩm các loại, tăng 12%. Tiêu thụ 6,4 triệu tấn, tăng 7,2%.
Giá thép sẽ không giảm sâu
Theo TS. Nguyễn Văn Sưa, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam, giá thép đã giảm rất sâu từ cuối năm 2014 - 2015, đến năm 2016 có tăng lên 2016 nhưng thất thường. Một điều chắc chắn là giá thép không quay lại như năm 2014 - 2015.
Nguyên nhân, sự phát triển quá nóng của ngành thép Trung Quốc khiến Chính phủ nước này hỗ trợ doanh nghiệp thép xuất khẩu ra thế giới năm 2014 là 93 triệu tấn, năm 2015 là 112 tiệu tấn (trong khi năng lực sản xuất thép của Mỹ chỉ trên 80 triệu tấn/năm, cả Châu Âu mới sản xuất trên 100 triệu tấn). Doanh nghiệp ngành thép của Trung Quốc đã lỗ 5-6 tỷ USD năm 2014 và lỗ 15 tỷ USD năm 2015. Tuy nhiên, nhiều năm tới Trung Quốc vẫn là thị trường dẫn dắt thép thế giới. Nên việc để giá thép rơi xuống như năm 2014 - 2015 sẽ không xảy ra.
Đối với ngành thép Việt Nam, nếu như năm 2016, các doanh nghiệp ngành thép có bước nhảy vọt về sản lượng lẫn lợi nhuận, năm 2017 không có con số ấn tượng như vậy và chỉ số tăng trưởng năm 2017 là 12% so với 19-20% năm 2016.
Ông Phạm Mạnh Hùng, Tổng giám đốc CTCP Thép Nam Kim (NKG), cho biết năm 2014 và năm 2015 giá nguyên liệu thép biến động không ngừng khi giá thép năm 2014 là 500 USD/tấn giảm còn 280 USD/tấn năm 2015, nhưng biên lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp ngành thép như: HPG, NKG, HSG vẫn được cải thiện. Năm 2017, biên lợi nhuận có thể không bằng năm 2016, các doanh nghiệp bắt buộc phải mở rộng thị trường.
Không nên quá dựa vào áp thuế tự vệ
Theo ông Phạm Mạnhh Hùng, Tổng giám đốc NKG, tôn mạ màu có 3 năm áp thuế 9%. Với mức áp thuế tự vệ cho tôn mạ màu 3 năm ở mức 9%, các doanh nghiệp trong nước sẽ tăng tôn mạ bán ở thị trường nội địa 300-400 nghìn tấn/năm. Sau khi hết thuế tự vệ, Bộ Công Thương đang triển khai thuế chống bán phá giá với tôn mạ màu. Nam Kim cũng đã đầu tư dây chuyền sản xuất tôn mạ màu công suất 120 nghìn tấn/năm để nắm bắt cơ hội này.
Theo ông Võ Nguyễn Khoa Tuấn, Giám đốc nghiệp vụ, Quỹ đầu tư Dragon Capital, thuế tự vệ, thuế chống bán phá giá mà Việt Nam áp lên thép Trung Quốc là hoàn toàn đúng đắn.
Tại thị trường Việt Nam, tính đến cuối 2015 và giữa năm 2016, thép Trung Quốc chiếm 15-20% về phôi thép và thép xây dựng, tôn mạ và tôn màu chiếm 50%. Điều này rất nguy hiểm khi Trung Quốc khống chế ngành thép Việt Nam thì họ sẽ tăng giá và người tiêu dùng sẽ bị thiệt hại.
Nếu không áp thuế tự vệ nhiều doanh nghiệp thép trong nước như: HPG, HSG, NKG… vẫn sống tốt, nhưng có thuế tự vệ họ sẽ cạnh tranh sòng phẳng với Trung Quốc trong 2-3 năm tới vì được chuẩn bị công nghệ và tiềm lực tốt.
Bên cạnh đó, năm 2016, ROE (tỷ suất sinh lời trên vốn) của nhiều doanh nghiệp thép Trung Quốc ở mức 10-15%, doanh nghiệp thép hàng đầu Việt Nam có ROE tới 30-50%. Những năm tới ROE của doanh nghiệp thép Việt vẫn 30-40%.
Ông Khổng Phan Đức, Tổng giám đốc VietinbankSc, thuế tự vệ không phải là vĩnh viễn và giảm dần đến năm 2020, nhưng đây là khoảng thời gian giúp cho doanh nghiệp thép “duy tu bảo dưỡng” lại năng lực của mình để có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp ngoại.
Khi các doanh nghiệp thép trong nước có dây chuyền khép kín sẽ giúp biên lợi nhuận tốt hơn. Nội lực của doanh nghiệp mới là quan trọng để đối mặt với áp lực cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài, thuế tự vệ chỉ là tạm thời.
Trong gần bốn tháng qua, giá mặt hàng thép 14 lần liên tục “lao dốc” với tổng mức giảm từ 4 triệu đồng đến 5,5 triệu đồng/tấn tùy từng thương hiệu, chủng loại. Ðiều này khiến thị trường xây dựng giảm bớt áp lực, song lại khiến nhiều doanh nghiệp ngành thép có nguy cơ rơi vào thua lỗ trong sản xuất, kinh doanh.
Các doanh nghiệp thép đều đang đặt kỳ vọng cuối năm 2022 giá thép sẽ phục hồi khi các dự án xây dựng tăng tốc. Song với lượng hàng tồn kho còn khá lớn, nhất là những tháng cuối năm có thể chịu tác động xấu do nhu cầu sụt giảm, bảo hộ thương mại gia tăng, cùng với thời tiết vào mùa mưa,… là những yếu tố bất lợi, cản đà phục hồi của ngành thép.
Giá thép giảm 14 lần liên tiếp
Ðến giữa tháng 8 vừa qua, đã có nhiều doanh nghiệp sản xuất thép trong nước thông báo giảm giá lần thứ 14 liên tiếp trong gần bốn tháng. Theo đó, tại khu vực miền bắc, giá thép cuộn CB240 và thép thanh vằn D10 CB300 thương hiệu Hòa Phát giảm khoảng 300 nghìn đồng/tấn, với giá lần lượt còn 14,8 triệu đồng/tấn và 15,7 triệu đồng/tấn. Còn với thương hiệu Việt Nhật, mức giảm từ 200 nghìn đồng đến 310 nghìn đồng/ tấn, sau điều chỉnh giá hai loại thép này lần lượt còn 14,7 triệu đồng/tấn và 15,3 triệu đồng/tấn.
Riêng tại khu vực miền trung, thép Pomina có mức giảm mạnh nhất với giá thép cuộn CB240 giảm tới 1,31 triệu đồng/tấn, xuống còn 14,98 triệu đồng/tấn, thép thanh vằn D10 CB300 giảm 310 nghìn đồng/tấn, xuống còn 16,39 triệu đồng/tấn.
.jpeg)
Sau bốn tháng đầu năm tăng nóng, bảy lần điều chỉnh tăng giá bán, đã có lúc giá thép chạm ngưỡng 21 triệu đồng/tấn, nay giá thép trong nước lại đảo ngược bất ngờ, về mức thấp hơn thời điểm đầu năm. Theo chia sẻ của Giám đốc Công ty Xây dựng Thành Thắng, Lê Ðình Thắng, sau thời gian dài tăng nhanh, việc giá thép giảm mạnh giúp cho các dự án thi công nhận thầu từ đầu năm đến nay có phần dễ thở đối với công trình có trị giá lớn do không còn phải bù lỗ với các hợp đồng đơn giá cố định.
Suốt thời gian dài vừa qua, biên lợi nhuận của doanh nghiệp luôn phải chịu nhiều áp lực do chi phí nguyên vật liệu đầu vào tăng cao kèm theo thị trường bất động sản trầm lắng, đầu tư công chưa đạt kỳ vọng. Khi giá thép “hạ nhiệt” sẽ làm giảm bớt gánh nặng cho nhiều doanh nghiệp xây dựng bởi thép thường chiếm khoảng 20%-30% chi phí mỗi công trình.
Tuy nhiên, việc giá thép liên tục “dò” đáy có thể khiến cho kế hoạch sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thép trong năm 2022 sẽ không đạt như kỳ vọng. Ðơn cử như Tập đoàn Hòa Phát, nửa đầu năm 2022 ghi nhận doanh thu 82.118 tỷ đồng và 12.229 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, tương ứng giảm 27% so với cùng kỳ năm 2021, hoàn thành 46% kế hoạch năm.
Trên cơ sở đó, Hòa Phát dự kiến lợi nhuận cả năm 2022 chỉ đạt mức 25 nghìn tỷ đến 30 nghìn tỷ đồng, thấp hơn mức lợi nhuận 34.521 tỷ đồng của năm 2021. Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên (TISCO) cũng vừa thông báo, lãi quý II/2022 giảm 90% so cùng kỳ năm 2021, xuống còn gần sáu tỷ đồng. Tương tự, Công ty cổ phần Thép Thủ Ðức, báo cáo doanh thu quý II/2022 với lợi nhuận sau thuế âm gần hai tỷ đồng, trong khi cùng kỳ năm 2021 lãi 34 tỷ đồng.
Kỳ vọng những tháng cuối năm
Theo Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), nửa đầu năm 2022, phần lớn các nhà máy đều trong tình trạng khó khăn do lượng hàng tồn kho cao với mức 1,42 triệu tấn, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 2021. Mức độ cạnh tranh giữa các nhà máy ngày càng khốc liệt về giá bán và xâm lấn thị phần của nhau.
Ðể tháo gỡ khó khăn, nhiều nhà máy thép đã buộc phải cắt giảm sản xuất từ 3 ca/ngày xuống còn 2 ca/ngày, thậm chí có những giai đoạn phải dừng sản xuất. Chủ tịch VSA Nghiêm Xuân Ða dự báo, thép xây dựng từ tháng 7 đến tháng 9 sẽ kém sôi động do thời tiết bước vào mùa mưa, đây cũng là một trong những yếu tố tạo nên tính chu kỳ cho ngành thép khiến nhiều công trình xây dựng ảnh hưởng tiến độ. Giá thép xây dựng trong nước sẽ tiếp tục giảm, trong khi lợi nhuận mảng xuất khẩu mặt hàng này không còn tốt như trước. Gần đây, EU đang ngày càng siết chặt các chính sách bảo hộ thương mại đối với sản phẩm thép của Việt Nam, giảm hạn ngạch nhập khẩu.
Với điều chỉnh này, xuất khẩu sắt thép của Việt Nam sang thị trường EU có thể sẽ giảm trong thời gian tới. Trong khi đó, những yếu tố khiến triển vọng thị trường thép nửa cuối năm chưa khả quan khi tốc độ giải ngân đầu tư công chậm, ngân hàng siết tín dụng bất động sản, mùa cao điểm xây dựng đã qua,… khiến các doanh nghiệp thép “bí” đầu ra.
Ngành thép Việt Nam đang phải đối mặt với sức ép cả về phía cung và cầu khi giá nguyên vật liệu tăng, trong khi nhu cầu bị thu hẹp. Dự báo trong năm 2022, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu nhiều loại nguyên liệu để sản xuất thép như quặng sắt cho các lò cao khoảng hơn 18 triệu tấn, thép phế khoảng 6 triệu-6,5 triệu tấn cho các lò điện, than mỡ luyện cốc khoảng 6,5 triệu tấn và điện cực graphite 10 nghìn tấn. Nhưng khả năng giá quặng sắt, thép phế, quặng nguyên liệu thô và than mỡ luyện cốc,… vẫn duy trì ở mức cao sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp sản xuất thép và thị trường thép trong nước.
Bộ Công thương đã có những biện pháp bảo đảm cung cầu và bình ổn giá, theo dõi và xử lý kịp thời việc chống bán phá giá một số sản phẩm thép nhập khẩu vào thị trường Việt Nam cũng như đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá của các nước với mặt hàng thép xuất khẩu của Việt Nam nhằm giảm đến mức thấp nhất thiệt hại cho các doanh nghiệp sản xuất thép. Ngành Công thương đã tăng cường công tác quản lý thị trường để ngăn chặn, xử lý kịp thời hiện tượng đầu cơ tăng giá, thao túng giá thép trên thị trường, gian lận thương mại làm thất thu ngân sách nhà nước và ảnh hưởng đến người tiêu dùng,…
Thời gian qua, các dự án đầu tư triển khai có phần chậm, kéo theo lượng thép tiêu thụ giảm khiến các doanh nghiệp thép buộc phải giảm công suất sản xuất, trong khi thép tồn kho từ trước còn khá lớn, cho nên khi giá giảm mạnh như hiện nay sẽ ảnh hưởng lớn đến tình hình kinh doanh. Doanh nghiệp nào tồn kho nhiều sẽ phải chịu cảnh “đầu vào cao, đầu ra thấp”, khiến doanh thu sụt giảm nghiêm trọng.
Các chuyên gia dự báo từ nay đến cuối năm sẽ còn nhiều khó khăn đối với ngành thép, song với những kinh nghiệm tích lũy được trong việc ứng phó trên thị trường nhiều năm qua, vẫn có nhiều tín hiệu cho thấy các doanh nghiệp ngành thép Việt Nam có các giải pháp sáng tạo vượt qua khó khăn, ổn định sản xuất, kinh doanh. Dịp cuối năm, nhất là trong quý IV, việc xây dựng công trình nhà ở, bất động sản tăng trưởng trở lại sẽ khiến lượng tiêu thụ các sản phẩm thép trong năm 2022 có thể tăng trưởng quanh mức 7%-10%.
