Việt Nam không nên làm thép! 05.10.2016

Dù bị áp thuế tự vệ, giá thép nhập khẩu từ Trung Quốc vẫn thấp hơn thép Việt Nam khoảng 10%.

Kể từ sau khi tin tức về dự án thép Cà Ná có quy mô 10,6 tỉ USD được truyền đi, những tranh cãi về chuyện Việt Nam nên hay không nên làm thép đã nổ ra. Phía ủng hộ có lý do để bỏ phiếu thuận. Đại diện Bộ Công Thương nhận định, Việt Nam sẽ thiếu hụt khoảng 17 triệu tấn thép vào năm 2020 và đến năm 2025, con số này có thể lên tới 22-25 triệu tấn. Đây là lý do để Bộ Công Thương bỏ phiếu cho dự án thép Cà Ná.

Một số chuyên gia tán thành sự ra đời của những dự án thép “khủng” còn vì ngành thép cần được cơ cấu lại. Trong bài viết của mình, chuyên gia kinh tế Phan Minh Ngọc cho rằng, phần lớn nhà máy ở Việt Nam có quy mô nhỏ hoặc rất nhỏ (công suất dưới 500.000 tấn). Sự ra đời của những dự án thép quy mô lớn hứa hẹn làm gia tăng vị thế của ngành, tăng áp lực cạnh tranh, buộc các nhà máy và dự án thép kém hiệu quả phải rút lui.

Liệu những lý do này đủ để thuyết phục các dự án thép “khủng” là cần thiết cho Việt Nam?

 

Nỗi ám ảnh từ thép Trung Quốc

Phải thừa nhận một nghịch lý rằng Việt Nam thiếu nhưng lại thừa thép. Trong những phân khúc Việt Nam đang sản xuất như thép xây dựng, thép ống, thép cuộn cán nguội và tôn mạ, hầu hết đều có công suất gấp đôi mức tiêu thụ. Sắp tới, khi nhiều dự án mới như Khu Liên hợp Gang Thép Formosa Hà Tĩnh (Đài Loan), Thép Nghi Sơn cùng đi vào hoạt động, sản lượng thép đến năm 2030 có thể đạt tới 50 triệu tấn mỗi năm, gấp 3-4 lần hiện tại. Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ dự đoán chưa tới 40 triệu tấn/năm.

Thừa thép nhưng Việt Nam vẫn đang bỏ ra hàng tỉ USD mỗi năm để nhập khẩu thép. Đó là vì nhiều loại thép như thép hợp kim, thép cuộn cán nóng, thép tấm lá, thép không gỉ, thép chế tạo... Việt Nam chưa đủ khả năng sản xuất hoặc chưa đủ năng lực đáp ứng. Theo Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), năm 2015, Việt Nam đã nhập gần 1,8 triệu tấn phôi thép, nhập hơn 1,6 triệu tấn thép cuộn, dây thép và 1,43 triệu tấn tôn mạ. Tất cả đều tăng mạnh so với cùng kỳ.

Đây là sự bất hợp lý trong cơ cấu sản phẩm, đồng thời cũng phản ánh năng lực cạnh tranh yếu kém của ngành thép Việt Nam. Thực tế, dù bị áp thuế tự vệ, giá thép nhập khẩu từ Trung Quốc hiện vẫn thấp hơn thép Việt Nam khoảng 10%. Vì thế, các công ty thương mại tích cực nhập khẩu thép Trung Quốc về bán. Trong 8 tháng đầu năm nay, lượng thép Trung Quốc nhập vào Việt Nam đã gần bằng 80% lượng thép tiêu thụ trên thị trường và chiếm xấp xỉ 60% về sản lượng lẫn giá trị thép nhập khẩu của Việt Nam.

Thép Trung Quốc sẽ còn tiếp tục gây khó khăn cho thép Việt Nam do quốc gia này đang thừa cung và có thể sẽ thực hiện chiến dịch phá giá, đẩy mạnh bán thép ra nước ngoài. Trung bình mỗi năm Trung Quốc xuất ra thị trường thế giới 15% tổng sản lượng sắt thép. Nếu tình hình tiêu thụ ở Trung Quốc không cải thiện, nước này có thể dư thừa tới 300 triệu tấn thép mỗi năm, theo dự báo của Hiệp hội Sắt Thép Trung Quốc.

Cả thế giới đều lo sợ và tìm cách ngăn chặn thép Trung Quốc. Mỹ đã áp dụng mức thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp lên tới 266% đối với một số sản phẩm thép Trung Quốc nhập khẩu. Úc cũng quyết định áp thuế chống bán phá giá 53% lên thép Trung Quốc từ tháng 4 năm nay bất chấp Trung Quốc đe dọa cắt giảm nhập khẩu quặng sắt từ Úc. Riêng châu Âu, một mặt vận động các tập đoàn thép lớn sáp nhập với nhau và đổi mới công nghệ để làm ra những loại thép cao cấp mà Trung Quốc không sản xuất được, mặt khác đàm phán với Trung Quốc lập ra một cơ quan hỗn hợp để theo dõi số liệu thương mại song phương về thép và giám sát việc Trung Quốc thực hiện các biện pháp cắt giảm sản lượng thép.

Việt Nam cũng đã thiết lập hàng rào thuế quan tự vệ đối với thép nhập khẩu và chính thức áp dụng biện pháp này từ tháng 8.2016. Tuy nhiên, mức thuế 23,3% mà Việt Nam áp cho phôi thép và 15,4% dành cho thép dài sẽ chỉ kéo đến tháng 3.2020, với thuế suất giảm dần qua các năm. Nhiều khả năng các biện pháp tự vệ từ Việt Nam sẽ không làm chậm lại bước tiến của thép Trung Quốc.

Trung Quốc có sức mạnh của một cường quốc về sản xuất thép. Theo Hiệp hội Thép Thế giới, hằng năm, Trung Quốc sản xuất hơn 800 triệu tấn thép. Tuy năm 2015, nước này đã giảm đôi chút về sản lượng nhưng vẫn gấp 5 lần sản lượng của châu Âu, hơn 7 lần Nhật và chiếm hơn một nửa tổng sản lượng thép toàn thế giới. Với quy mô này, cộng thêm những ưu đãi mà Trung Quốc dành cho ngành thép, như ưu đãi về giá điện, nước, nới lỏng các quy định về môi trường và các doanh nghiệp thép Trung Quốc cũng đã triển khai những ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất thép nên thép Trung Quốc không chỉ vượt trội về nguồn cung hàng hóa mà còn hấp dẫn về giá cả. Với những lợi thế này, gần như không quốc gia nào thắng nổi Trung Quốc trong cuộc cạnh tranh về giá thép.

Bất lợi đủ đường

Ngành thép Việt Nam còn phải cạnh tranh với các đối thủ đến từ nhóm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Một khi nhà máy thép của Formosa đi vào vận hành, với công suất 7,5 triệu tấn/năm giai đoạn 1 và tăng lên khoảng 22,5 triệu tấn/năm khi nhà máy hoàn thiện, Formosa có khả năng sẽ thao túng cả thị trường. Bởi ngay doanh nghiệp thép lớn nhất hiện nay của Việt Nam là Hòa Phát cũng chỉ mới đạt công suất 2 triệu tấn/năm.

Ngành thép cũng chịu ảnh hưởng bởi cung cầu thị trường, giá cả... trên thế giới, vốn thường xuyên biến động. Chính vì thế, ngành thép chỉ mới sáng sủa trở lại trong năm nay, sau khi giá thép thế giới hồi phục, nhu cầu thép trong nước tăng theo, thị trường bất động sản ấm lại và Việt Nam đã tiến hành các biện pháp thuế quan tự vệ. Còn trước đó, ngành thép Việt Nam hứng chịu nhiều lao đao. Trong 5 năm (2011-2015), nhiều doanh nghiệp trong ngành này như Thép Việt Ý, Hữu Liên Á Châu, Thép Tiến Lên, Pomina, Thép Nam Kim, Đại Thiên Lộc, Thép Thái Nguyên (TISCO)... đều từng nếm trải mùi thua lỗ.

Nhìn sâu thêm vào ngành thép mới thấy Việt Nam khó mong đạt tới một nền công nghiệp thép có khả năng trụ vững trước sức tấn công của thép Trung Quốc. Theo báo cáo của nhóm chuyên gia thuộc Fulbright, sau hơn 2 thập niên tìm cách đổi mới ngành thép, dồn lực đầu tư cho nhóm doanh nghiệp nhà nước mà cụ thể là Tổng Công ty Thép Việt Nam (VNSteel), VNSteel vẫn không tỏa sáng. Trong khi đó, các doanh nghiệp tư nhân - nhóm không được ưu tiên - lại cho thấy sức bật. Hiện tại, Pomina là doanh nghiệp đầu tư bài bản nhất, còn Hòa Phát có lẽ là doanh nghiệp đạt lợi thế cạnh tranh lớn nhất.

Nhưng sự vươn lên của một số doanh nghiệp thép không xóa đi được thực trạng ngành thép Việt Nam. Số liệu từ VSA cho thấy, hơn 2/3 nhà máy sản xuất thép trong nước hiện sử dụng các thiết bị sản xuất có trình độ công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều năng lượng và gây ô nhiễm môi trường. Trong luyện phôi, doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu dùng công nghệ lò điện, vốn là công nghệ lạc hậu so với lò cao. Trong sản xuất thép, nhiều công ty sử dụng lò dung tích nhỏ (chưa tới 100 m3), thấp hơn nhiều so với dung tích bình quân hàng ngàn mét khối của Nhật, Trung Quốc. Bởi thế, các doanh nghiệp thép của Việt Nam thường mất thời gian gấp đôi và tiêu hao điện cao hơn 60-70% so với thế giới để sản xuất 1 mẻ thép, theo báo cáo từ VNSteel. Và giá thành làm thép của Việt Nam cũng cao hơn 10-15% thế giới.

Tương lai ngành thép Việt Nam đang trông nhờ vào các doanh nghiệp tư nhân như Hòa Phát, Hoa Sen, Pomina. Đây là các doanh nghiệp đã lớn mạnh về quy mô, đầu tư nghiêm túc nên được kỳ vọng sẽ tạo được sức cạnh tranh. Nhưng đây cũng là nhóm cần sự hỗ trợ từ chính sách. Chẳng hạn, chính sách cấm xuất khẩu quặng sắt có lợi cho Hòa Phát và TISCO. Hòa Phát, chẳng hạn, đã nắm quyền quyết định trong đàm phán mua quặng sắt khi các cửa ra cho quặng sắt bị đóng lại.

Ngay việc áp thuế tự vệ cũng chỉ có lợi cho một số doanh nghiệp vừa luyện phôi vừa sản xuất thép như Hòa Phát, Việt Ý, Pomina, nhóm doanh nghiệp VNSteel, theo đánh giá của Công ty Chứng khoán Bảo Việt. Còn phần đông những doanh nghiệp chỉ sản xuất hoặc làm thương mại thép lại không hưởng lợi hoặc hưởng lợi rất ít. Rõ ràng, các chính sách về thép chỉ hỗ trợ một nhóm doanh nghiệp và đã gây ra những tranh cãi nhất định.

Đáng nói là dù được tạo điều kiện, sản phẩm thép Việt Nam vẫn khó lật ngược thế cờ trước thép ngoại. Lượng thép nhập khẩu vào Việt Nam vẫn trên đà tăng và tăng cao hơn sản lượng thép sản xuất trong nước. Trong khi đó, sản xuất thép đưa đất nước đối mặt với rủi ro môi trường. Theo Hội Khoa học Kỹ thuật Đúc - Luyện kim Việt Nam (VFMSTA), để sản xuất được một tấn thép thô bằng công nghệ lò cao, các doanh nghiệp sẽ thải ra hơn 585 kg chất thải rắn, 3 m3 nước thải độc hại, 2,3 tấn khí CO2, cùng các loại khí CO, SO2, bụi và bụi kim loại... Vì vậy, trong các vùng luyện kim, thường 60% khí quyển bị nhiễm bẩn. Nếu các loại khí thải này không được xử lý tốt, các hóa chất sẽ gây ra những hiện tượng như mưa a-xít, cùng với bụi kim loại, làm nguy hại cho sức khỏe con người, cây trồng vật nuôi trong khu vực.

Trả lời báo chí, ông Phạm Chí Cường, Chủ tịch VFMSTA, cho biết: “Sản xuất thép là ngành không thân thiện với môi trường. Không có nhà máy thép nào là sạch. Nơi nào có nhà máy thép nơi đó có ô nhiễm”. Để làm sạch môi trường, năm 2014, các doanh nghiệp Mỹ đã chi 17 USD cho mỗi tấn thép, theo Cục Điều tra Thống kê Mỹ. Nếu Formosa cũng làm theo cách của doanh nghiệp Mỹ, ước tính chi phí khử ô nhiễm khi sản xuất 7,5 triệu tấn thép sẽ là 127 triệu USD.

Việt Nam đi sau, lại không có lợi thế về quy mô, công nghệ, vốn… để đưa ngành thép đạt tới tầm vóc đủ sức cạnh tranh về giá và chất lượng với các nước. Trong khi đó, thép Trung Quốc, thép Hàn, Nhật... dư thừa nguồn cung, không ngừng đe dọa thép Việt Nam. Và cùng với hiểm họa môi trường, một số ý kiến cho rằng, Việt Nam nên đi con đường nhập thép sẽ lợi ích hơn là đẩy mạnh sản xuất thép.

Bình luận & chia sẻ
Đang tải bình luận,....
Đọc thêm
Giá dầm H Đông Nam Á tăng tháng thứ 5 trong bối cảnh cơ hội trong nước tốt hơn
Các nguồn tin cho biết, giá nhập khẩu dầm hình H bản rộng vào tháng 3 vào Đông Nam Á tiếp tục cao hơn trong tháng thứ năm liên tiếp, khi người bán tăng kỳ vọng về giá với lý do cơ hội tốt hơn ở thị trường nội địa.
Đánh giá tháng 3 của dầm H bản rộng S275JR ở mức 770 USD/tấn CFR Đông Nam Á, tăng 20 USD/tấn so với tháng trước.
Một người mua đã mua dầm H xuất xứ từ Hàn Quốc với giá 760 USD/tấn CFR Singapore vào đầu tháng 3, tăng 10 USD/tấn so với giao dịch tháng trước.
Tuy nhiên, giá chào bán đã tăng lên 790 USD/tấn vào giữa tháng 3 và chỉ được chuyển sang chỉ báo vào cuối tháng khi các nhà xuất khẩu ở Hàn Quốc và Thái Lan cho rằng nhu cầu trong nước được cải thiện.
Chúng tôi đã mua một số nguyên liệu vào đầu tháng nhưng hiện các chào bán đã bị rút lại với người bán kỳ vọng cao hơn,” một nhà môi giới tại Singapore cho biết vào ngày 31/3. “Chúng tôi có thể cân nhắc lên đến 770 USD/tấn nếu một công ty đưa ra chào bán hôm nay.”
Trong khi đó, chào bán dầm H có xuất xứ từ Trung Quốc đã bị hạn chế trong bối cảnh suy đoán về việc giảm hoàn thuế xuất khẩu của Trung Quốc.
Tại Singapore, các hoạt động xây dựng được đánh giá là tốt với việc kho dự trữ nhận được các yêu cầu tích cực đối với thép xây dựng, tuy nhiên, một số không thể bán được do lượng cung cấp trong khu vực hạn chế.
Có nhu cầu từ các công trường xây dựng nhưng vấn đề là các nhà máy trong khu vực đang im hơi lặng tiếng,” nhà dự trữ cho biết. “Chúng tôi muốn tích trữ nếu giá đưa ra không quá cắt cổ.”

Dữ liệu cho thấy giá dầm hình H tại Đông Nam Á lần cuối đạt mức cao tương tự là 785 USD/tấn CFR vào tháng 6/2012.
Phôi thép Châu Á nhảy vọt, thép cây đi ngang trong bối cảnh giao dịch mới từ Qatar
Giá phôi ở Đông Nam Á kéo dài đà tăng vào ngày 31/ 3 khi những người mua trong khu vực mua một lô hàng Nga trong bối cảnh chào hàng ổn định, được hỗ trợ bởi nhu cầu từ Trung Quốc.
Trong khi đó, thép cây Châu Á đi ngang trong bối cảnh nhu cầu ổn định, với một giao dịch thép cây Qatar được đặt trước với điểm đến là Châu Á.
Đánh giá phôi giao ngay Đông Nam Á 5SP 130 mm ở mức trung bình 614 USD/tấn CFR Manila, tăng 7 USD/tấn so với ngày 30/3.
Tại Philippines, những người mua cần nguyên liệu đã phải trả tiền để đặt hàng mới sau hai tuần vắng bóng, trong khi một số người khác tỏ ra chán nản do tình hình tồi tệ hơn ở Manila.
Một hợp đồng phôi thép mới của Nga đã được ký kết ở mức khoảng 615 USD/tấn CFR tại Manila, một nguồn tin từ nhà máy Nga cho biết.
Một nguồn tin thị trường địa phương cho biết: “Họ không có lựa chọn nào về hàng hóa giá rẻ, với lý do giá chào ít nhất là 625 USD/tấn CFR Manila từ Việt Nam và Nga.”
Trong khi đó, một số nhà máy đã lên kế hoạch ngừng hoạt động kể từ ngày 1/ 4 do kỳ nghỉ lễ Phục sinh đang đến gần.
Trong khi đó, người mua Trung Quốc tiếp tục mua từ người bán Nga và Ấn Độ với mức giá khoảng 620 USD/tấn CFR Trung Quốc trong bối cảnh nhu cầu giao ngay trong nước ổn định, tăng 1-2 USD/tấn so với ngày trước.
Doanh số bán giao ngay cho người mua cuối cùng vẫn tăng mạnh ở miền bắc Trung Quốc do cắt giảm sản lượng ở Đường Sơn, tỉnh Hà Bắc, nhưng đã chậm lại ở miền đông Trung Quốc khi lượng phôi thép nhập khẩu đáng chú ý đến, một thương nhân miền đông Trung Quốc cho biết.
Phôi Tangshan Q235 được định giá ở mức 4,870 NDT/tấn (742 USD/tấn), không thay đổi so với ngày trước.
Khi giá tại miền Bắc Trung Quốc tăng mạnh 350 NDT/tấn kể từ ngày 22/3 và có khả năng đạt mức đỉnh trong ngắn hạn, những người tham gia thị trường đã đi ngang. “Một số người hy vọng giá sẽ tăng hơn nữa, trong khi những người khác không nghĩ như vậy,” một thương nhân miền Bắc Trung Quốc cho biết.
Giá chào từ Trung Đông và Nga giữ ổn định ở mức 620-627 USD/tấn CFR Trung Quốc, mức gần với hàng ASEAN có cùng chất lượng và lô hàng ở mức 630-635 USD/tấn CFR Trung Quốc. Hai bên tham gia thị trường cho biết mức chênh lệch hẹp giữa hàng hóa ASEAN và ngoài ASEAN từ 12- 13 USD/tấn xuống còn 5 - 8 USD/tấn do kỳ vọng rằng Trung Quốc sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu 2% đối với bán thành phẩm kể từ tháng 5.
Ngoài ra, giá thép cây tại Châu Á không đổi trong bối cảnh các chào bán mới đối với thép cây Thổ Nhĩ Kỳ và Qatar trong bối cảnh nhu cầu ổn định tại các thị trường nội địa Hồng Kông, Singapore và Trung Quốc và một hợp đồng thép cây Qatar mới đã được kết thúc với điểm đến Châu Á.
 
Đánh giá thép cây BS500 đường kính 16-20 mm ở mức 679 USD/tấn FOB Trung Quốc trọng lượng thực tế, không thay đổi so với ngày trước. Đánh giá thép cây có đường kính 16-32 mm BS4449 Grade 500 ở mức 668 USD/tấn CFR Đông Nam Á, không thay đổi so với ngày trước.
Tại thị trường bán lẻ Bắc Kinh, thép cây HRB400 đường kính 18-25 mm được đánh giá ở mức 4,980 NDT/tấn (759 USD/tấn) trọng lượng thực tế xuất xưởng vào ngày 31/ 3, bao gồm 13% thuế giá trị gia tăng, không thay đổi so với ngày trước.
Một hợp đồng mới cho một tàu thép cây Qatar được bán trên cơ sở FOB với điểm đến là Hồng Kông hoặc Singapore, các nguồn thị trường cho biết lô hàng trong tháng 6, trong khi giá của thỏa thuận này chưa được xác nhận tại thời điểm công bố.
Tại Hồng Kông, các nguồn cung cấp thép cây Qatar và Thổ Nhĩ Kỳ đã nhận được ở mức 680 USD/tấn CFR Hồng Kông trọng lượng thực tế của lô hàng cuối tháng 5/tháng 6, các nguồn thị trường cho biết, không thay đổi so với ngày trước.
Tại Singapore, một nhà chế tạo cho biết chào mua thép cây Qatar ở mức 680 USD/tấn CFR trọng lượng lý thuyết của lô hàng tháng 6.

Người mua ở cả hai thành phố đều nhận thấy nhu cầu ổn định từ người dùng cuối, đồng thời lượng hàng tồn kho cũng nhiều nên chưa vội mua.
HRC, tấm dày Châu Á tăng trong bối cảnh thị trường Trung Quốc tăng mạnh
Giá HRC châu Á kéo dài đà tăng vào ngày 31/3, với những người tham gia thị trường giữ cách tiếp cận chờ đợi trước khi công bố chính sách hoàn thuế xuất khẩu ở Trung Quốc.
Đánh giá HRC SS400 dày 3 mm ở mức 767 USD/tấn FOB Trung Quốc, không thay đổi so với ngày trước. Trên cơ sở CFR Đông Nam Á, cùng loại thép cuộn được đánh giá ở mức 767 USD/tấn, không thay đổi so với ngày trước.
Những người tham gia thị trường đang thảo luận về khả năng loại bỏ hoàn thuế xuất khẩu cho HRC ở Trung Quốc, điều này khiến cả người mua và người bán đều thận trọng.
Một thương nhân Trung Quốc cho biết: “Hầu hết mọi người thích chờ đợi ngay bây giờ, vì thông báo dự kiến ​​sẽ được công bố trong ngắn hạn”.
Chúng tôi đã nghe tin đồn rằng khoản hoàn thuế sẽ bị loại bỏ và khá lo lắng cho các hợp đồng hiện có,” một nguồn tin từ nhà máy Trung Quốc cho biết.
Đánh giá HRC SAE1006 ở mức 796 USD/tấn FOB Trung Quốc, tăng 5 USD/tấn so với ngày trước. Trên cơ sở CFR Đông Nam Á, cùng loại thép cuộn được đánh giá ở mức 803 USD/tấn, tăng 5 USD/tấn so với ngày trước.
Tại Việt Nam, hoạt động này bị tạm dừng do người mua đang chờ việc giảm hoàn thuế xuất khẩu ở Trung Quốc và người bán không muốn cung cấp bất kỳ chào bán nào vào lúc này. Một số nguồn tin thị trường cho biết chỉ báo mua tăng cao hơn lên 800-805 USD/tấn CFR, do dấu hiệu bán ra đã tăng đối với nguyên liệu của Ấn Độ và giá chào mua của Trung Quốc cao hơn do khả năng cắt giảm hoàn thuế.
Một thương nhân Việt Nam cho biết: “Thật khó để tìm được mức chào giá thấp hơn cho SAE1006,” trích dẫn mức chào bán cho SAE Ấn Độ trong tuần này là 830-845 USD/tấn CFR.”
Người dùng cuối không thể chấp nhận mức chào bán Ấn Độ. Nếu người mua nào có nhu cầu thì phải mua, nhưng những người khác sẽ chờ mua từ FHS hoặc Hòa Phát ”, một thương nhân thứ hai cho biết.
Tại Thượng Hải, giá HRC Q235 5.5 mm giao ngay được đánh giá ở mức 5,325 NDT/tấn (813 USD/tấn) xuất xưởng, bao gồm thuế giá trị gia tăng, giảm 5 NDT/tấn so với ngày trước.
Trên Sàn giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải, hợp đồng giao tháng 5 chốt ở mức 5,383 NDT/tấn, tăng 11 NDT/tấn, tương đương 0.2% so với cùng kỳ. Như vậy, hợp đồng này đã tăng trong 4 ngày liên tiếp với tổng mức tăng là 253 NDT/tấn và đạt mức cao mới kể từ khi hợp đồng ra mắt vào năm 2014.
Đánh giá hàng tuần tấm dày 12-25 mm loại Q235/SS400, hoặc loại tương đương, ở mức 750 USD/tấn CFR Đông Á, tăng 20 USD/tấn so với tuần trước.
Một nhà máy ở phía đông Trung Quốc chào giá 750 USD/tấn FOB và cần người mua trang trải 100% chi phí bổ sung trong trường hợp cắt giảm khoản hoàn thuế xuất khẩu, hầu hết các nhà máy khác chờ đợi ở bên lề.
Đánh giá tấm dày Q235 12-20 mm ở mức 740 USD/tấn FOB Trung Quốc vào ngày 31/3, tăng 65 USD/tấn so với tháng trước.


Giá trong nước của nguyên liệu cùng loại được đánh giá ở mức 5,300 NDT/tấn xuất xưởng tại Thượng Hải, bao gồm thuế giá trị gia tăng, tăng 420 NDT/tấn so với tháng trước.
Giá thép dây Trung Quốc tăng tuần thứ 8 liên tiếp, các nhà máy ngừng báo giá
Giá thép dây Châu Á tăng trên thị trường giao ngay và kỳ hạn Trung Quốc. Các nhà máy đã ngừng báo giá do không chắc chắn về những thay đổi về việc giảm hoàn thuế xuất khẩu của Trung Quốc.
Tại thị trường Thượng Hải, thép dây Q195 6.5 mm giao ngay được đánh giá ở mức 5,020 NDT/tấn (764 USD/tấn) xuất xưởng, bao gồm 13% thuế giá trị gia tăng, tăng 200 NDT/tấn so với tuần trước.
Đánh giá thép dây dạng lưới 6.5 mm SAE1008 ở mức 740 USD/tấn FOB Trung Quốc vào ngày 31/3, tăng 10 USD/tấn so với tuần trước.
Hầu hết các nhà máy xuất khẩu thép dây chính ở đông bắc và đông Trung Quốc đã ngừng báo giá trong tuần thứ hai liên tiếp do khả năng thay đổi về việc giảm hoàn thuế xuất khẩu. Các nguồn tin nhà máy cho biết họ hiện đang chờ đợi thông báo mới trong khi hiện tại vẫn chưa có thêm thông tin cập nhật nào.
Tin đồn không chính thức trên thị trường về những thay đổi của việc giảm hoàn thuế xuất khẩu ở Trung Quốc có thể sẽ bắt đầu vào tháng 4.
Một thương nhân cho biết: “Các hợp đồng đã bị đóng băng liên quan đến việc nhập khẩu thép dây của Trung Quốc vào thị trường Hàn Quốc.”
Chính phủ Trung Quốc đang ép buộc kế hoạch cắt giảm của họ dẫn đến sản lượng giảm nghiêm trọng và vì vấn đề chính sách giảm thuế, người mua đang giữ vững lập trường và quan sát lập trường,” nguồn tin nói thêm.
Một nhà máy đã chào bán các sản phẩm thép khác ngày hôm qua mà không có thép dây,” một người mua thép dây cho biết, đồng thời cho biết thêm rằng chào bán đó kèm với điều kiện người mua sẽ chịu 100% giá khi xảy ra thay đổi chính sách hoàn thuế.
Hợp đồng thép cây giao tháng 5/2021 trên Sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải chốt ở mức 4,935 NDT/tấn (751 USD/tấn) vào ngày 31/3, tăng 119 NDT/tấn so với tuần trước.