28/09/2017 Ngành thép Việt Nam: Nghịch lý tăng trưởng mạnh nhưng vẫn phải nhập khẩu

Một nghịch lý đang tồn tại trong ngành thép Việt Nam là thừa năng lực sản xuất nhưng vẫn phải nhập khẩu với số lượng lớn.


Trong những gần đây, ngành thép Việt Nam có mức tăng trưởng tương đối cao. Để tiếp tục đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng trong thời gian tới, các doanh nghiệp phải tập trung hơn nữa cho các vấn đề mở rộng, hoàn thiện chuỗi giá trị để tạo giá trị gia tăng cao hơn cho ngành.

* Nghịch lý tăng trưởng mạnh song vẫn phải nhập khẩu

Theo số liệu của Hiệp hội Thép Việt Nam, trong năm 2016, Việt Nam đã sản xuất được 3,6 triệu tấn thép cuộn nguội (CRC), 8,6 triệu tấn thép xây dựng và 5,45 triệu tấn các sản phẩm ống thép, tôn mạ. Từ năm 2013 - 2016, sản lượng thép sản xuất và tiêu thụ tăng trưởng trung bình 21,64% và 25,7%.

Đặc biệt, từ cuối năm 2016 đến nay, thị trường chứng khoán Việt Nam đã chứng kiến một năm bùng nổ của các doanh nghiệp ngành thép. Tính trung bình, các doanh nghiệp trong ngành đã tăng trưởng doanh thu 14,34% và lợi nhuận 81,65%, giúp giá cổ phiếu chung tăng trưởng 91%.

Lý giải việc sản lượng tiêu thụ của các doanh nghiệp thép đều tăng mạnh, ông Võ Nguyễn Khoa Tuấn, Giám đốc nghiệp vụ Quỹ Dragon Capital cho rằng, trước hết là nhờ sự phục hồi của thị trường bất động sản cùng với nhu cầu xây dựng căn hộ tăng cao giúp các doanh nghiệp thép trong nước hoạt động gần như tối đa công suất. Cùng với đó, giá thép thế giới phục hồi mạnh, kéo theo sự phục hồi của giá thép trong nước giúp các doanh nghiệp như Hòa Phát, Hoa Sen và Nam Kim mở rộng biên lợi nhuận gộp.

Phát biểu tại “Đối thoại ngành thép: Triển vọng 2017- 2020" (ngày 12-6-2017), ông Khổng Phan Đức, Tổng Giám đốc VietinbankSC cho biết, ngành thép Việt Nam tuy có quy mô không lớn, nhưng vẫn có lợi thế cạnh tranh riêng, đặc biệt là chi phí sản xuất rất cạnh tranh so với các nước khác.

Thêm vào đó, dư địa phát triển ngành thép tại Việt Nam vẫn còn rất lớn do nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng ở các tỉnh, thành phố lớn cũng như tốc độ đô thị hóa phát triển nhanh tại các vùng nông thôn.

Ngoài ra còn do, lượng thép tiêu thụ/đầu người của Việt Nam vẫn còn thấp khi so với các quốc gia phát triển khác. Theo số liệu 2015, lượng thép tiêu thụ tại Việt Nam đạt 195 kg/người, thấp hơn nhiều so với Trung Quốc (489 kg/người), Nhật Bản (497 kg/người), Mỹ (297 kg/người) hay Hàn Quốc (1.136 kg/người). Điều này thể hiện ngành thép trong tương lai vẫn còn nhiều tiềm năng phát triển.

Tuy nhiên, có một nghịch lý đang tồn tại là thị trường thép Việt Nam thừa năng lực sản xuất song vẫn phải nhập khẩu, mà còn nhập số lượng lớn. Nguyên nhân là do chuỗi giá trị của ngành thép nội địa chưa được hoàn thiện nên mới chỉ đáp ứng đủ nhu cầu thép xây dựng, thép cán nguội, ống thép và tôn mạ kim loại và sơn phủ màu (một số sản phẩm như tôn mạ màu, ống thép… còn được xuất khẩu sang các quốc gia khác) nhưng vẫn phải nhập rất nhiều sản phẩm thép cuộn cán nóng (HRC), thép chế tạo, thép hợp kim…

Năm 2016, sản lượng thép nhập khẩu là 22,7 triệu tấn, trong đó thép hợp kim chiếm 27%, HRC chiếm 24,6% và thép phế 17%. Dự kiến, lượng nhập siêu của ngành thép trong vòng 5 năm tới được kỳ vọng giảm dần khi Hòa Phát và Formosa bắt đầu sản xuất HRC.

* Ngành thép Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng ở mức từ 12% - 15%

Hiệp hội thép Việt Nam dự báo, trong 5 năm tới, ngành thép Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng ở mức từ 12% - 15%. Năm 2017, dự kiến sản lượng gang tăng 80%, đạt 4,5 triệu tấn; phôi thép tăng 47,2% (11,5 triệu tấn); thép thành phẩm tăng 12% (20 triệu tấn); thép xây dựng tăng 11%; thép lá cuộn cán nguội tăng 13%; thép ống hàn tăng 15%; tôn mạ và sơn phủ màu tăng 12%.

Tại buổi đối thoại, các diễn giả cũng đề ra triển vọng phát triển ngành đến năm 2020, cụ thể sản lượng sản xuất theo dự báo sẽ tăng từ 18 triệu tấn (2016) lên đến xấp xỉ 26 triệu tấn (2020).

Để phát triển ngành thép cũng như tiếp tục đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng ngành thép, ông Nguyễn Văn Sưa, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam cho rằng, các doanh nghiệp phải tập trung hơn nữa cho các vấn đề mở rộng, khai thác điểm khuyết trong chuỗi giá trị để tạo giá trị gia tăng cao hơn cho ngành thông qua cải tiến công nghệ, dây chuyền sản xuất.

Đồng quan điểm, ông Phạm Mạnh Hùng, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Thép Nam Kim cho rằng, doanh nghiệp ngành thép cần tăng cường đa dạng hóa cơ cấu sản phẩm, tối ưu hóa quy mô sản xuất với quy trình khép kín. Từ đó, doanh nghiệp từng bước giảm chi phí sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh về giá, kể cả so với sản phẩm nhập khẩu.

Bên cạnh đó, các chuyên gia cũng tỏ ra lo ngại về các FTA đã và đang ký kết sẽ tạo nên áp lực cạnh tranh đối với các doanh nghiệp thép Việt Nam sẽ ngày càng lớn. Để đối mặt với áp lực cạnh tranh trên, các diễn giả cho rằng các doanh nghiệp cần phải hoàn thiện, nâng cao chuỗi giá trị.

Về việc áp thuế tự vệ chống bán phá giá, Bộ Công Thương đã áp dụng thuế tự vệ bổ sung đối với phôi thép và thép dài trong 4 năm. Mỗi năm, mức thuế tự vệ bổ sung sẽ giảm từ 1-2% và giảm về 0 trong tháng 3-2020 nếu không có quyết định gia hạn. Theo các chuyên gia, những doanh nghiệp sản xuất phôi sẽ được hưởng lợi mạnh mẽ, trong khi những doanh nghiệp thép xây dựng nhỏ với công nghệ chưa cao, phải nhập phôi thép về làm nguyên liệu sẽ bị ảnh hưởng đáng kể khi phôi thép bị đánh thuế tự vệ 23%.

Theo ông Võ Nguyễn Khoa Tuấn, đây là một chính sách hoàn toàn đúng đắn của Chính phủ Việt Nam. Cuối 2015, giữa 2016, sản lượng tôn mạ Trung Quốc ước tính chiếm 50% thị phần tại Việt Nam. Vì vậy, việc áp thuế là cần thiết nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thời gian đầu tư công nghệ, nguồn lực để cạnh tranh với thành phẩm Trung Quốc.

Bình luận & chia sẻ
Đang tải bình luận,....
Đọc thêm
Giá dầm H Đông Nam Á tăng tháng thứ 5 trong bối cảnh cơ hội trong nước tốt hơn
Các nguồn tin cho biết, giá nhập khẩu dầm hình H bản rộng vào tháng 3 vào Đông Nam Á tiếp tục cao hơn trong tháng thứ năm liên tiếp, khi người bán tăng kỳ vọng về giá với lý do cơ hội tốt hơn ở thị trường nội địa.
Đánh giá tháng 3 của dầm H bản rộng S275JR ở mức 770 USD/tấn CFR Đông Nam Á, tăng 20 USD/tấn so với tháng trước.
Một người mua đã mua dầm H xuất xứ từ Hàn Quốc với giá 760 USD/tấn CFR Singapore vào đầu tháng 3, tăng 10 USD/tấn so với giao dịch tháng trước.
Tuy nhiên, giá chào bán đã tăng lên 790 USD/tấn vào giữa tháng 3 và chỉ được chuyển sang chỉ báo vào cuối tháng khi các nhà xuất khẩu ở Hàn Quốc và Thái Lan cho rằng nhu cầu trong nước được cải thiện.
Chúng tôi đã mua một số nguyên liệu vào đầu tháng nhưng hiện các chào bán đã bị rút lại với người bán kỳ vọng cao hơn,” một nhà môi giới tại Singapore cho biết vào ngày 31/3. “Chúng tôi có thể cân nhắc lên đến 770 USD/tấn nếu một công ty đưa ra chào bán hôm nay.”
Trong khi đó, chào bán dầm H có xuất xứ từ Trung Quốc đã bị hạn chế trong bối cảnh suy đoán về việc giảm hoàn thuế xuất khẩu của Trung Quốc.
Tại Singapore, các hoạt động xây dựng được đánh giá là tốt với việc kho dự trữ nhận được các yêu cầu tích cực đối với thép xây dựng, tuy nhiên, một số không thể bán được do lượng cung cấp trong khu vực hạn chế.
Có nhu cầu từ các công trường xây dựng nhưng vấn đề là các nhà máy trong khu vực đang im hơi lặng tiếng,” nhà dự trữ cho biết. “Chúng tôi muốn tích trữ nếu giá đưa ra không quá cắt cổ.”

Dữ liệu cho thấy giá dầm hình H tại Đông Nam Á lần cuối đạt mức cao tương tự là 785 USD/tấn CFR vào tháng 6/2012.
Phôi thép Châu Á nhảy vọt, thép cây đi ngang trong bối cảnh giao dịch mới từ Qatar
Giá phôi ở Đông Nam Á kéo dài đà tăng vào ngày 31/ 3 khi những người mua trong khu vực mua một lô hàng Nga trong bối cảnh chào hàng ổn định, được hỗ trợ bởi nhu cầu từ Trung Quốc.
Trong khi đó, thép cây Châu Á đi ngang trong bối cảnh nhu cầu ổn định, với một giao dịch thép cây Qatar được đặt trước với điểm đến là Châu Á.
Đánh giá phôi giao ngay Đông Nam Á 5SP 130 mm ở mức trung bình 614 USD/tấn CFR Manila, tăng 7 USD/tấn so với ngày 30/3.
Tại Philippines, những người mua cần nguyên liệu đã phải trả tiền để đặt hàng mới sau hai tuần vắng bóng, trong khi một số người khác tỏ ra chán nản do tình hình tồi tệ hơn ở Manila.
Một hợp đồng phôi thép mới của Nga đã được ký kết ở mức khoảng 615 USD/tấn CFR tại Manila, một nguồn tin từ nhà máy Nga cho biết.
Một nguồn tin thị trường địa phương cho biết: “Họ không có lựa chọn nào về hàng hóa giá rẻ, với lý do giá chào ít nhất là 625 USD/tấn CFR Manila từ Việt Nam và Nga.”
Trong khi đó, một số nhà máy đã lên kế hoạch ngừng hoạt động kể từ ngày 1/ 4 do kỳ nghỉ lễ Phục sinh đang đến gần.
Trong khi đó, người mua Trung Quốc tiếp tục mua từ người bán Nga và Ấn Độ với mức giá khoảng 620 USD/tấn CFR Trung Quốc trong bối cảnh nhu cầu giao ngay trong nước ổn định, tăng 1-2 USD/tấn so với ngày trước.
Doanh số bán giao ngay cho người mua cuối cùng vẫn tăng mạnh ở miền bắc Trung Quốc do cắt giảm sản lượng ở Đường Sơn, tỉnh Hà Bắc, nhưng đã chậm lại ở miền đông Trung Quốc khi lượng phôi thép nhập khẩu đáng chú ý đến, một thương nhân miền đông Trung Quốc cho biết.
Phôi Tangshan Q235 được định giá ở mức 4,870 NDT/tấn (742 USD/tấn), không thay đổi so với ngày trước.
Khi giá tại miền Bắc Trung Quốc tăng mạnh 350 NDT/tấn kể từ ngày 22/3 và có khả năng đạt mức đỉnh trong ngắn hạn, những người tham gia thị trường đã đi ngang. “Một số người hy vọng giá sẽ tăng hơn nữa, trong khi những người khác không nghĩ như vậy,” một thương nhân miền Bắc Trung Quốc cho biết.
Giá chào từ Trung Đông và Nga giữ ổn định ở mức 620-627 USD/tấn CFR Trung Quốc, mức gần với hàng ASEAN có cùng chất lượng và lô hàng ở mức 630-635 USD/tấn CFR Trung Quốc. Hai bên tham gia thị trường cho biết mức chênh lệch hẹp giữa hàng hóa ASEAN và ngoài ASEAN từ 12- 13 USD/tấn xuống còn 5 - 8 USD/tấn do kỳ vọng rằng Trung Quốc sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu 2% đối với bán thành phẩm kể từ tháng 5.
Ngoài ra, giá thép cây tại Châu Á không đổi trong bối cảnh các chào bán mới đối với thép cây Thổ Nhĩ Kỳ và Qatar trong bối cảnh nhu cầu ổn định tại các thị trường nội địa Hồng Kông, Singapore và Trung Quốc và một hợp đồng thép cây Qatar mới đã được kết thúc với điểm đến Châu Á.
 
Đánh giá thép cây BS500 đường kính 16-20 mm ở mức 679 USD/tấn FOB Trung Quốc trọng lượng thực tế, không thay đổi so với ngày trước. Đánh giá thép cây có đường kính 16-32 mm BS4449 Grade 500 ở mức 668 USD/tấn CFR Đông Nam Á, không thay đổi so với ngày trước.
Tại thị trường bán lẻ Bắc Kinh, thép cây HRB400 đường kính 18-25 mm được đánh giá ở mức 4,980 NDT/tấn (759 USD/tấn) trọng lượng thực tế xuất xưởng vào ngày 31/ 3, bao gồm 13% thuế giá trị gia tăng, không thay đổi so với ngày trước.
Một hợp đồng mới cho một tàu thép cây Qatar được bán trên cơ sở FOB với điểm đến là Hồng Kông hoặc Singapore, các nguồn thị trường cho biết lô hàng trong tháng 6, trong khi giá của thỏa thuận này chưa được xác nhận tại thời điểm công bố.
Tại Hồng Kông, các nguồn cung cấp thép cây Qatar và Thổ Nhĩ Kỳ đã nhận được ở mức 680 USD/tấn CFR Hồng Kông trọng lượng thực tế của lô hàng cuối tháng 5/tháng 6, các nguồn thị trường cho biết, không thay đổi so với ngày trước.
Tại Singapore, một nhà chế tạo cho biết chào mua thép cây Qatar ở mức 680 USD/tấn CFR trọng lượng lý thuyết của lô hàng tháng 6.

Người mua ở cả hai thành phố đều nhận thấy nhu cầu ổn định từ người dùng cuối, đồng thời lượng hàng tồn kho cũng nhiều nên chưa vội mua.
HRC, tấm dày Châu Á tăng trong bối cảnh thị trường Trung Quốc tăng mạnh
Giá HRC châu Á kéo dài đà tăng vào ngày 31/3, với những người tham gia thị trường giữ cách tiếp cận chờ đợi trước khi công bố chính sách hoàn thuế xuất khẩu ở Trung Quốc.
Đánh giá HRC SS400 dày 3 mm ở mức 767 USD/tấn FOB Trung Quốc, không thay đổi so với ngày trước. Trên cơ sở CFR Đông Nam Á, cùng loại thép cuộn được đánh giá ở mức 767 USD/tấn, không thay đổi so với ngày trước.
Những người tham gia thị trường đang thảo luận về khả năng loại bỏ hoàn thuế xuất khẩu cho HRC ở Trung Quốc, điều này khiến cả người mua và người bán đều thận trọng.
Một thương nhân Trung Quốc cho biết: “Hầu hết mọi người thích chờ đợi ngay bây giờ, vì thông báo dự kiến ​​sẽ được công bố trong ngắn hạn”.
Chúng tôi đã nghe tin đồn rằng khoản hoàn thuế sẽ bị loại bỏ và khá lo lắng cho các hợp đồng hiện có,” một nguồn tin từ nhà máy Trung Quốc cho biết.
Đánh giá HRC SAE1006 ở mức 796 USD/tấn FOB Trung Quốc, tăng 5 USD/tấn so với ngày trước. Trên cơ sở CFR Đông Nam Á, cùng loại thép cuộn được đánh giá ở mức 803 USD/tấn, tăng 5 USD/tấn so với ngày trước.
Tại Việt Nam, hoạt động này bị tạm dừng do người mua đang chờ việc giảm hoàn thuế xuất khẩu ở Trung Quốc và người bán không muốn cung cấp bất kỳ chào bán nào vào lúc này. Một số nguồn tin thị trường cho biết chỉ báo mua tăng cao hơn lên 800-805 USD/tấn CFR, do dấu hiệu bán ra đã tăng đối với nguyên liệu của Ấn Độ và giá chào mua của Trung Quốc cao hơn do khả năng cắt giảm hoàn thuế.
Một thương nhân Việt Nam cho biết: “Thật khó để tìm được mức chào giá thấp hơn cho SAE1006,” trích dẫn mức chào bán cho SAE Ấn Độ trong tuần này là 830-845 USD/tấn CFR.”
Người dùng cuối không thể chấp nhận mức chào bán Ấn Độ. Nếu người mua nào có nhu cầu thì phải mua, nhưng những người khác sẽ chờ mua từ FHS hoặc Hòa Phát ”, một thương nhân thứ hai cho biết.
Tại Thượng Hải, giá HRC Q235 5.5 mm giao ngay được đánh giá ở mức 5,325 NDT/tấn (813 USD/tấn) xuất xưởng, bao gồm thuế giá trị gia tăng, giảm 5 NDT/tấn so với ngày trước.
Trên Sàn giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải, hợp đồng giao tháng 5 chốt ở mức 5,383 NDT/tấn, tăng 11 NDT/tấn, tương đương 0.2% so với cùng kỳ. Như vậy, hợp đồng này đã tăng trong 4 ngày liên tiếp với tổng mức tăng là 253 NDT/tấn và đạt mức cao mới kể từ khi hợp đồng ra mắt vào năm 2014.
Đánh giá hàng tuần tấm dày 12-25 mm loại Q235/SS400, hoặc loại tương đương, ở mức 750 USD/tấn CFR Đông Á, tăng 20 USD/tấn so với tuần trước.
Một nhà máy ở phía đông Trung Quốc chào giá 750 USD/tấn FOB và cần người mua trang trải 100% chi phí bổ sung trong trường hợp cắt giảm khoản hoàn thuế xuất khẩu, hầu hết các nhà máy khác chờ đợi ở bên lề.
Đánh giá tấm dày Q235 12-20 mm ở mức 740 USD/tấn FOB Trung Quốc vào ngày 31/3, tăng 65 USD/tấn so với tháng trước.


Giá trong nước của nguyên liệu cùng loại được đánh giá ở mức 5,300 NDT/tấn xuất xưởng tại Thượng Hải, bao gồm thuế giá trị gia tăng, tăng 420 NDT/tấn so với tháng trước.
Giá thép dây Trung Quốc tăng tuần thứ 8 liên tiếp, các nhà máy ngừng báo giá
Giá thép dây Châu Á tăng trên thị trường giao ngay và kỳ hạn Trung Quốc. Các nhà máy đã ngừng báo giá do không chắc chắn về những thay đổi về việc giảm hoàn thuế xuất khẩu của Trung Quốc.
Tại thị trường Thượng Hải, thép dây Q195 6.5 mm giao ngay được đánh giá ở mức 5,020 NDT/tấn (764 USD/tấn) xuất xưởng, bao gồm 13% thuế giá trị gia tăng, tăng 200 NDT/tấn so với tuần trước.
Đánh giá thép dây dạng lưới 6.5 mm SAE1008 ở mức 740 USD/tấn FOB Trung Quốc vào ngày 31/3, tăng 10 USD/tấn so với tuần trước.
Hầu hết các nhà máy xuất khẩu thép dây chính ở đông bắc và đông Trung Quốc đã ngừng báo giá trong tuần thứ hai liên tiếp do khả năng thay đổi về việc giảm hoàn thuế xuất khẩu. Các nguồn tin nhà máy cho biết họ hiện đang chờ đợi thông báo mới trong khi hiện tại vẫn chưa có thêm thông tin cập nhật nào.
Tin đồn không chính thức trên thị trường về những thay đổi của việc giảm hoàn thuế xuất khẩu ở Trung Quốc có thể sẽ bắt đầu vào tháng 4.
Một thương nhân cho biết: “Các hợp đồng đã bị đóng băng liên quan đến việc nhập khẩu thép dây của Trung Quốc vào thị trường Hàn Quốc.”
Chính phủ Trung Quốc đang ép buộc kế hoạch cắt giảm của họ dẫn đến sản lượng giảm nghiêm trọng và vì vấn đề chính sách giảm thuế, người mua đang giữ vững lập trường và quan sát lập trường,” nguồn tin nói thêm.
Một nhà máy đã chào bán các sản phẩm thép khác ngày hôm qua mà không có thép dây,” một người mua thép dây cho biết, đồng thời cho biết thêm rằng chào bán đó kèm với điều kiện người mua sẽ chịu 100% giá khi xảy ra thay đổi chính sách hoàn thuế.
Hợp đồng thép cây giao tháng 5/2021 trên Sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải chốt ở mức 4,935 NDT/tấn (751 USD/tấn) vào ngày 31/3, tăng 119 NDT/tấn so với tuần trước.